1 2 3 4 5 6 7

Ẩm thực vùng Balkan

Ẩm thực Balkan là một loại hình ẩm thực Địa Trung Hải kết hợp giữa Châu Âu với một số đặc điểm ẩm thực Trung Đông của các quốc gia của vùng bán đảo Balkan giáp ranh trên miền Bắc với vùng phía nam Đông Âu.

Các món ăn ẩm thực Balkan dựa trên một số công thức nấu ăn hàng thế kỷ đã được điều chỉnh và cập nhật một chút trong những năm qua. Ẩm thực Balkan là sự kết hợp của nhiều nền văn hóa và ảnh hưởng khác nhau, và trong khi chịu ảnh hưởng rất lớn của ẩm thực Thổ Nhĩ Kỳ vì hầu hết người Balkan nằm dưới Đế chế Ottoman trong gần 500 năm, sự thật là hầu hết các món đặc sản của các quốc gia vùng là sự kết hợp một chút của tất cả mọi thứ.

Ẩm thực Balkan bao gồm các quốc thuộc miền Balkan sau đây:

Ẩm thực Albania các món ăn quốc gia của người Albania

Ẩm thực Albania (tiếng Albania: Kuzhina shqiptare) là món ăn quốc gia của người Albania. Nó là cách nấu ăn mang phong cách Địa Trung Hải có nhiều ảnh hưởng từ Hy Lạp, Ý và Thổ Nhĩ Kỳ.

Ẩm thực Albania sử dụng nhiều loại nguyên liệu, bao gồm nhiều loại rau khác nhau như cà tím, ớt, cà chua, dưa chuột, bắp cải và rau bina, cũng như các loại ngũ cốc khác nhau như lúa mì, ngô, lúa mạch và lúa mạch đen. Gạo, khoai tây và đậu là thành phần trong nhiều món ăn khác. Các loại thịt thường được sử dụng là thịt cừu, dê, thịt bò và thịt bê, thịt gà và các loại gia cầm khác và tùy theo tôn giáo là thịt lợn. Đôi khi nội tạng cũng tìm đường vào thức ăn. Cá cũng phổ biến gần bờ biển và các hồ lớn trong đất liền. Các sản phẩm từ sữa như sữa chua cũng rất quan trọng. Các thành phần quan trọng khác là dầu ô liu và phô mai, các loại gia vị điển hình bao gồm lá oregano, bạc hà, ớt bột, húng quế, hành và tỏi.

Bữa ăn chính của các người Albania là bữa trưa, mà thường bao gồm gjellë (hầm), món chính làm từ thịt nấu nhừ với các loại rau, và một loại salad từ rau tươi ví dụ như cà chua, dưa chuột, ớt chuông xanh, và ô-liu. Món salad được nêm với muối, dầu ô liu, giấm hoặc nước chanh. Ảnh hưởng của Thổ Nhĩ Kỳ phần vùng miền Châu Á có thể được cảm nhận rõ ràng trong các món tráng miệng rất ngọt. Ảnh hưởng của Thổ Nhĩ Kỳ  vùng Châu Á có thể được cảm nhận rõ ràng trong các món tráng miệng rất ngọt.

Ở những vùng cao, thịt xông khói và đồ muối phổ biến. Nội tạng động vật cũng được sử dụng trong các món ăn như ruột được coi là tinh tế. Sản phẩm từ sữa là một phần mở rộng của ẩm thực này và thường đi kèm với bánh mì và đồ uống có cồn như Raki. Đặc sản hải sản cũng rất phổ biến trong những thành phố như Durrës, Vlorë, Shkodër và Sarandë.

Các món ăn của ẩm thực Albania khác nhau đã phát triển theo từng vùng, và cũng có những biến thể khác nhau của cùng một món ăn, thay đổi theo từng khu vực, nhưng cũng có thể từ làng này sang làng khác. Vì trong ẩm thực Albania, người ta nấu ăn theo tỷ lệ các nguyên liệu đang có sa84b  và nhu cầu bữa ăn tùy lúc  hơn là theo một công thức, nên cũng khó có thể thực sự biến món ăn Albania trở nên “hữu hình” hoặc tập hợp một bộ sưu tập công thức nấu ăn đáng tin cậy. Tuy nhiên, có rất nhiều sách dạy nấu ăn về các món ăn Albania từ Albania, Kosovo và Bắc Macedonia.

Đồ uống điển hình bao gồm raki rrushi (rượu mạnh nho) và raki mani (rượu dâu tằm), konjak Skënderbeu, cà phê Thổ Nhĩ Kỳ, cà phê espresso và trà núi. Albania cũng có một nền văn hóa trồng nho phong phú trong nhiều thế kỷ, mà hầu như không được biết đến ở nước ngoài. Buttermilk (alb. Dhalla / Dhallë) cũng được uống với nhiều món.

Hiếu khách  là một phong cách và phong tục cơ bản của xã hội Albania và phục vụ đồ ăn là một phần không thể thiếu trong việc đón tiếp khách và du khách. Việc du khách được mời đi ăn uống với người dân địa phương không phải là chuyện thường xuyên. Quy tắc danh dự của người Albania thời trung cổ, được gọi là besa, dẫn đến việc chăm sóc khách và người lạ như một hành động công nhận và biết ơn.

Ẩm thực Albania có thể được chia thành ba nền ẩm thực khu vực chính. 

Ẩm thực của vùng Bắc Bộ có nguồn gốc nông thôn, miền biển và miền núi. Thịt, cá và rau là trung tâm của ẩm thực Bắc Bộ. Người dân ở đó sử dụng nhiều loại nguyên liệu, thường được trồng trong khu vực bao gồm khoai tây, cà rốt, ngô, đậu, cải bắp và anh đào, quả óc chó và hạnh nhân. Ngô xay không chỉ được sử dụng cho hầu hết các loại bánh mì, nó còn là nguyên liệu để làm cả các món ăn ngọt và mặn. Tỏi và hành tây cũng là những thành phần quan trọng trong ẩm thực địa phương và được thêm vào hầu hết các món ăn.

Ẩm thực miền trung mang đậm chất 3 miền quê, miền núi và miền biển. Khu vực miền Trung là nơi bằng phẳng nhất và có nhiều thảm thực vật, đa dạng sinh học cũng như đặc sản ẩm thực. Nó có đặc điểm Địa Trung Hải do gần biển, rất giàu cá. Các món ăn ở đây bao gồm một số đặc sản thịt và món tráng miệng các loại.

Ở miền Nam, ẩm thực bao gồm hai thành phần: các sản phẩm nông thôn của đồng ruộng bao gồm các sản phẩm sữa, trái cây có múi và dầu ô liu, và các sản phẩm ven biển, tức là Hải sản. Những vùng này đặc biệt thuận lợi cho việc chăn nuôi vì đồng cỏ và nguồn thức ăn chăn nuôi dồi dào.

Bên cạnh tỏi, hành tây được cho là nguyên liệu được sử dụng rộng rãi nhất của đất nước.  Albania được xếp hạng thứ tư trên thế giới về tiêu thụ hành tây trên đầu người.

Speça me gjize

Món ăn đầy màu sắc Speça me gjize được làm bằng cách nhồi với cơm, phô mai và gia vị vào ớt xanh hoặc ớt đỏ rồi cho vào lò nướng. Đây được xem là  ăn chay rất được ưa chuộng của du khách khi đến du lịch Albania.

Qofte

Là món thịt viên nướng rất được yêu thích trong ẩm thực Albania. Người dân nơi đây sẽ ướp thịt đã xay nhuyễn với gia vị và bạc hà; khi ăn thì ăn kèm với salad và hành tây. Một biến thể của Qofte là Kernaçka, một loại thịt viên khác của thành phố Korça ở Albania.

Perime ne Zgare

Là món rau củ nướng  ngon, bổ, dưỡng của người dân Albania, thường bao gồm bắp cải, bí xanh, cà tím, hành tây, ớt, cà chua v.v.

Món ăn này thường được sử dụng như món khai vị hoặc ăn kèm với các món chính.

Tavë Kosi  (Tave Kosi)

Tave Kosi là món thịt nướng đút lò. Nguyên liệu chính để tạo nên Tave Kosi là thịt cừu, gạo, trứng và món sốt kem chua.

Thịt cừu thái miếng quân cờ, tẩm ướp với tiêu, muối và phô mai trước khi được nướng sơ. Và linh hồn của Tave Kosi là thứ nước sốt được kết hợp từ sốt Roux (bột mì và bơ được xào với tỏi và các loại rau thơm) với kem chua và lòng đỏ trứng, tạo nên một món sữa chua có mùi vị rất đặc trưng.

Thịt cừu và cơm được xếp vào trong thố, trước khi món sốt  được rưới lên trên, phủ đầy mặt thố và đưa vào lò nướng trong vòng 45 phút trước khi được dọn ra ăn kèm với salad.

Ẩm thực Romania, các món ăn của Romania

Ẩm thực Romania là sự pha trộn đa dạng của các món ăn khác nhau từ một số văn hóa ẩm thực truyền thống mà người Romania đã tiếp cận. Sự khác biệt về mặt lịch sử và văn hóa được tạo ra giữa các ẩm thực mang tính vùng miền của ẩm thực Romania như  ẩm thực của Ardeal, ẩm thực Wallachia và các phong cách nấu nướng, món ăn của các khu vực Moldova của Romania là vùng tiếp giáp biên giới Cộng hòa Moldova với nền ẩm thức món ăn địa phương của nước Moldova thuộc về Đông Âu.

 Ngoài ra món ăn  Romania  chủ yếu bị ảnh hưởng bởi cách nấu nướng các món ăn Thổ Nhĩ Kỳ và một loạt các món ăn Châu Âu nói riêng từ vùng Balkan, hoặc ẩm thực Hungary cũng như các yếu tố ẩm thực bắt nguồn từ ẩm thực của các nước nói tiếng Slavic ở Đông và Trung Âu, đặc biệt của Ukraine và Moldova  nhưng ẩm thực Romania  cũng duy trì nét đặc trưng của riêng mình.

Một loại nguyên liệu lương thực chính quan trọng của Romania là ngô. Nó được chế biến dưới dạng bột ngô và bột ngô trong nấu ăn và nướng. Mămăligă, một món cháo ngô rắn, được coi là món ăn dân tộc. Thịt và sữa cừu cũng đóng một vai trò rất quan trọng. Mặt khác, khoai tây có tầm quan trọng thứ yếu và chỉ được dùng như một món ăn phụ.

Ẩm thực Romania bao gồm nhiều món ăn đặc biệt cho ngày lễ tôn giáo quan trọng được sắp xếp theo bốn mùa vì Romania có nguồn gốc từ Nhà thờ Chính thống giáo phương Đông. Các món ăn của Romania bao gồm rau, ngũ cốc, dầu thực vật, sữa, các sản phẩm từ sữa và thịt.

Romania có khá nhiều loại món ăn khác nhau, đôi khi được đưa vào một thuật ngữ chung chung; ví dụ, Ciorbă bao gồm nhiều loại súp có vị chua đặc trưng. Đây có thể là súp thịt và rau, súp ba chỉ (Ciorbă de burtă) và súp chân bê, hoặc súp cá, tất cả đều được làm chua bằng nước chanh, nước dưa bắp cải, giấm, hoặc borș (truyền thống được làm từ cám).  

Phô mai đã là một phần của ẩm thực Romania từ lịch sử cổ đại. Brânză là thuật ngữ chung cho pho mát trong tiếng Romania; ban đầu nó là một từ của người Dacian (Người Dacia hoặc Getae là bộ lạc Bắc Thracia. Người Dacia đã chung sống trong hòa bình và có cả đụng độ quân sự với các bộ tộc láng giềng, chẳng hạn như người Celt, người Germanic cổ, người Sarmatia, và người Scythia, nhưng họ cũng bị ảnh hưởng bởi những người Hy Lạp và La Mã cổ đại. Người La Mã cổ đại cuối cùng chinh phục và đồng hóa ngôn ngữ và văn hóa của người  Dacian. Vương quốc Dacia có kích thước thay đổi đã tồn tại giữa 82 trước Công nguyên cho đến khi bị La Mã chinh phục vào năm 106)

Ẩm thực truyền thống của người Dacia xưa của thời cổ Hy Lạp bao gồm rau (đậu lăng, đậu Hà Lan, rau bina, tỏi) và trái cây (nho, táo, mâm xôi) có giá trị dinh dưỡng cao. Người Dacia sản xuất rượu với số lượng lớn. Một lần, Burebista, một vị vua của người Dacia, tức giận vì việc lạm dụng rượu của các chiến binh của mình, đã chặt những cây nho; dân của ông đã từ bỏ rượu. Truyền thuyết nói rằng người Dacia đã tạo ra bia của riêng họ.  Người La Mã đã giúp giới thiệu các loại bánh ngọt khác nhau làm từ pho mát, bao gồm alivenci, pască hoặc brânzoaice. Họ cũng giới thiệu các biến thể khác nhau của cháo kê.

Ngô và khoai tây trở thành nguyên liệu thực phẩm chủ yếu của ẩm thực Romania sau khi du nhập vào châu Âu. Đặc biệt, ngô đã góp phần cải thiện sức khỏe và dinh dưỡng của người Romania trong thế kỷ 16 và 17, dẫn đến sự bùng nổ dân số.

Trong hơn bốn thế kỷ, Wallachia và Moldavia, hai thủ đô Romania thời trung cổ, đã bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi nước láng giềng lớn mạnh là Đế chế Ottoman. Ẩm thực Ottoman đã thay đổi bàn ăn của người Romania với các món khai vị làm từ nhiều loại rau khác nhau, chẳng hạn như cà tím và ớt chuông, cũng như các chế phẩm thịt khác nhau, chẳng hạn như Chiftele (thịt viên chiên giòn, một biến thể của kofta) và mici (xúc xích ngắn không có vỏ, thường nướng). Các loại Ciorbă / Borș (súp chua) và các món hầm thịt và rau, chẳng hạn như iahnie de fasole (đậu), ardei umpluți (ớt nhồi) và Sarmale (bắp cải nhồi) chịu ảnh hưởng của ẩm thực Thổ Nhĩ Kỳ. Salata cà chua Romania là một biến thể của món salata çoban của Thổ Nhĩ Kỳ. Nhiều món tráng miệng và bánh ngọt truyền thống kết hợp mật ong và các loại hạt, chẳng hạn như  Baclava, Sarailie (hoặc seraigli), Halva và Rahat (món ăn Thổ Nhĩ Kỳ).

Sarmale

Món bắp cải cuộn là món ăn phổ biến nhất xứ Transylvania và là món ăn chính trong dịp lễ Giáng Sinh của người Rumania. Món này được thực hiện bởi các nguyên liệu thịt bò, thịt heo xay và gạo trộn đều trong hỗn hợp gồm hành tây thái nhỏ được chiên vàng với bột ớt paprika và sốt cà chua, rồi cuộn trong lá bắp cải, sau đó luộc chín với lửa lớn và lửa riu 1 giờ.

Món Sarmale nổi danh khắp khu vực Trung Âu. Món này thường được ăn kèm với sườn nướng, khoai tây nghiền và bánh mì nướng. bắp cải muối chua và cháo đặc bột bắp.

Piftie

Là món thịt lợn nấu đông thơm ngon được làm từ chân giò, bì, tai và đuôi lợn. Hỗn hợp này được thêm nhiều gia vị, đặc biệt là tỏi và được phục vụ như là một món khai vị trong ẩm thực Romania, đặc biệt là vào dịp Giáng Sinh.

Caltabos

Là một loại xúc xích được làm từ gan heo phổ biến trong ẩm thực Romania. Ngoại trừ gan, món ăn này cũng chứa các loại nội tạng thịt lợn khác, thêm gạo, hành tây và gia vị. Tất cả được luộc, nghiền và nhồi thành những chiếc xúc xích ngon miệng.

Toba

Là món như  giò thủ (thịt nguội) của Việt Nam. Để làm được món Toba này, người dân Romania sẽ nhồi giò, da và thịt đầu của lợn kèm thêm gia vị đặc trưng để tăng hương vị. Sau đó, hỗn hợp này được hấp chín và cắt thành những lát vừa ăn.

Ciorbă de Burtă

Là món súp thịt bò Rumaniai, món súp bò được làm từ các nguyên liệu  thịt bê, dạ dày bò, lòng đỏ trứng, tỏi và kem chua. Khi ăn  kèm với tỏi, ớt và giấm.

Mititei

Đây là món thịt viên được làm từ sự kết hợp của thịt bò, thịt lợn, thịt cừu, tỏi, thì là và rau cần tây. Món này thường được ăn kèm với mù tạt và kẹp với bánh mì.

Zacuscă

Là một loại sốt truyền thống, được ăn kèm cùng với bánh mì. Thành phần chính của món này bao gồm cà tím, hành tây, ớt, muối và hạt tiêu đen.

Mămăligă

Mămăligă là một món cháo đặc truyền thống của Romania và là món ăn quốc gia của đất nước này thường bị nhầm lẫn với polenta. Nó là một món ăn cực kỳ đơn giản của bột ngô luộc, được nấu bởi hầu hết các nông dân ngày xưa, thường thay thế cho bánh mì.

Món này  được nấu trong một cái ấm có đáy tròn được gọi là ceaun, và sau khi nó nguội và cứng lại, cháo sẽ được cắt bằng một đoạn dây. Mămăligă thường được phủ lên trên với bơ, kem chua hoặc phô mai cascaval. Một cách khác để phục vụ món ăn bao gồm nghiền cháo trong một bát sữa nóng.

Ẩm thực Bulgaria, các món ăn của Bulgaria

Ẩm thực Bungaria (българска кухня, bylgarska kuhnja)  thuộc ẩm thực vùng Balkan là quốc gia đại diện của ẩm thực Đông Nam Châu Âu. Giống như  những món ăn của các quốc gia khác trên bán đảo Balkan, ẩm thực Bulgaria đã chịu ảnh hưởng của ẩm thực vùng Châu Á của Thổ nhĩ Ký và Địa Trung Hải trong nhiều thế kỷ. Nó có các đặc điểm chung với các ẩm thực vùng Balkan. Món ăn truyền thống của Bungaria rất đa dạng vì yếu tố địa lý như điều kiện khí hậu thích hợp cho một loạt các loại rau, rau thơm và trái cây. Ngoài sự đa dạng của món ăn địa phương Bulgaria, ẩm thực Bungaria một số món giống với món ăn của Nga, Ý, Hy Lạp và thậm chí Trung Đông

Đồ ăn Bungaria thường kết hợp salad làm món khai vị và cũng sử dụng nhiều các sản phẩm từ sữa, rượu vang và các đồ uống có cồn như rakia. Ẩm thực này cũng có các loại súp đa dạng, như súp lạnh tarator, và bánh nướng, như filo đế banitsa, pita và các loại Börek khác nhau.

Nguyên liệu thực phẩm Bulgaria dựa trên các loại ngũ cốc được trồng ở đồng bằng sông Danube, đặc biệt là lúa mì và ngô, ở miền nam Bulgaria cũng cũng sử dụng nhiều nguyện liệu gạo. Trong ngành chăn nuôi, gia súc và lợn đóng vai trò quan trọng nhất, ngoài ra còn có trâu nước và thú chơi. Loại quả quan trọng nhất là quả mơ. Cây hạnh nhân, óc chó, hạt dẻ, đậu phộng và sung cũng phát triển ở đây.

Món chính của Bulgaria được thường là các món hầm, hoặc là chay hoặc với thịt cừu, dê, bê, gà hay lợn. Đồ rán không phổ biến, nhưng nướng hun khói- đặc biệt là các loại xúc xích khác nhau- rất được ưa chuộng. Thịt lợn rất phổ biến, thường được trộn với thịt bê hay thịt cừu, mặc dù cá và thịt gà cũng được sử dụng rộng rãi. Trong khi hầu hết gia súc là các loài được nuôi cho sản xuất sữa hơn là lấy thịt, thịt bê phổ biến để làm món nướng khai vị (meze) và trong một số món chính. Là một nơi xuất khẩu cừu chính, lượng tiêu thụ cừu của chính Bulgaria cũng rất lớn, đặc biệt là trong mùa xuân.

Tương tự với các quốc gia Balkan khác lượng tiêu thụ sữa chua trên đầu người ở Bulgaria cao hơn các phần còn lại ở châu Âu. Đất nước này nổi tiếng với việc được sử dụng tên để đặt tên cho Lactobacillus bulgaricus, một vi sinh vật làm nên các sản phẩm sữa này.

Ẩm thực Bulgaria chia sẻ một số món ăn với ẩm thực Trung Đông, cũng như một số ít món ăn với ẩm thực Ấn Độ, cụ thể là ẩm thực Gujarat . Sự giao lưu ẩm thực với Trung Đông bắt đầu từ thế kỷ thứ 7, khi các thương nhân bắt đầu mang các loại thảo mộc và gia vị đến Đế chế Bungari thứ nhất từ Ấn Độ và Ba Tư thông qua các đế chế La Mã và sau đó là Byzantine.  Điều này được thể hiện rõ qua sự phổ biến rộng rãi của các món ăn như moussaka, gyuvetch, kyufte và baklava, những món phổ biến trong ẩm thực Trung Đông ngày nay. Phô mai ngâm nước muối trắng được gọi là "sirene" (сирене), tương tự như  phô mai Feta, cũng là một thành phần phổ biến được sử dụng trong món salad và nhiều loại bánh ngọt.

Ngày lễ thường được có những món ăn nhất định. Ví dụ, vào Đêm Giáng Sinh, ví dụ, theo truyền thống phải ăn móng  ớt chuông nhồi  và món Sarmi lá bắp cải. Đêm Giao Thừa thường bao gồm  các món bắp cải, Nikulden (Ngày Thánh Nicholas, ngày 6 tháng 12) ăn cá (thường là cá chép), trong khi Gergyovden (Ngày Thánh George, ngày 6 tháng 5) thường tổ chức với thịt cừu nướng.

Gyuvetch

Là một thịt nướng kết hợp với một món rau hầm tương tự như món Ratatouille của Pháp. Với nguyên liệu chính là cà chua được trộn đều với ô liu, nấm, hành tây và các loại thảo mộc khác.

Yahniya

Món ăn này được làm từ khoai tây Bulgaria ninh nhừ cùng gà chua, sau đó được ăn kèm với các loại rau củ xào.

Tarator

Là món súp lạnh được làm từ các thành phần đơn giản bao gồm sữa chua, dưa chuột, tỏi, hạt hồ đào, dầu hướng dương, óc chó và một chút thìa là. Để chế biến món này người ta không cần đun nấu hay trải qua các công đoạn phức tạp mà chỉ thái nhỏ dưa chuột, tỏi đập dập và ướp với chút muối sau đó cho thêm sữa chua, hạt hồ đào, óc chó, dầu hướng dương hoặc dầu oliu rồi trộn đều. Vị của món súp này hơi mặn nhưng rất ngon và thơm béo, vì các thành phần đều rất mát nên món ăn có tính giải nhiệt cao.

Banitsa

Banitsa là món ăn truyền thống trong ẩm thực Bulgaria. Món bánh này là một trong những món ăn nổi tiếng của Bulgaria.

Loại bánh này được làm từ các nguyên liệu khá phong phú như thịt, bột, trứng, pho mát, phomai feta, bí ngô, hành tây, bắp cải, rau bina, nấm hoặc bí ngô. Ở một số nơi người ta còn cho cả táo và hạt óc chó vào loại bánh này.

Để làm món ăn này người ta cần trải qua khá nhiều công đoạn từ nhồi bột, thêm các gia vị, thành phần đến tạo hình và nướng bánh. Kiểu dáng phổ biến của loại bánh này đó là hình tròn được xoắn lại như một chiếc dĩa lớn.

Lukanka

Lukanka là một món xúc xích khô rất nổi tiếng ở Bulgaria được làm từ thịt các loại gia vị và thảo mộc. Thịt lợn và thịt bò băm nhỏ sau đó mang ướp với các loại gia vị như tiêu, thì là, muối và nhồi vào trong ruột bò tạo thành khối salami hình trụ và đem treo khô trong thời gian từ 40 đến 50 ngày.

Kebapche

Là món thịt nướn tương tự thịt nước Kebab của Thổ Nhĩ Kỳ. Thị nướng  Kebapche có hình thon dài như xúc xích được làm từ thịt lớn kết hợp với thịt bò, ở một số nơi người ta chỉ làm Kebapche bằng thịt lợn. Khi chế biến người ta sẽ tẩm ướp các loại gia vị cay nhẹ như tiêu đen, thì là và muối.

Người ta thường tạo hình thịt thành những thanh khuôn dài dạng chữ nhật và đem nướng. Kebapche thường được dọn kèm các món salad, khoai tây chiên, bánh mì và thức uống phù hợp nhất với món này chính là bia.

Shopska Salad

Là món tráng miệng xong Shopska Salad cũng là một trong những món ăn đặc trưng ở Bulgaria. Nguyên liệu của món ăn này bao gồm các loại rau củ lành mạnh, tốt cho sức khỏe như cà chua, dưa chuột, hành tây, ớt ngọt đỏ xanh.

Khi chế biến người ta sẽ cắt nhỏ tất cả các nguyên liệu, riêng ớt sẽ được mang đi nướng cho dậy mùi. Tiếp đến sẽ trộn các nguyên liệu với dầu dấm, dầu hướng dương, rau mùi tây và một ít nước sốt đặc biệt làm từ tiêu, muối và nước gia vị. Trước khi ă hoặc phục vụ, người ta sẽ rắc thêm một ít pho mát Bulgaria lên món salad này để tạo hương vị hấp dẫn hơn.

Ẩm thực Bosnia và Hercegovina, các món ăn của Bosnia và Herzegovina

Ẩm thực Bosnia-Herzegovinian (thường được viết tắt là ẩm thực Bosnia) bao gồm các phong cách nấu ăn khác nhau của vùng và đặc sản ẩm thực ở Bosnia và Herzegovina. Giống như lịch sử và văn hóa của đất nước, nó bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi những người cai trị đất nước đã thay đổi qua nhiều thế kỷ. Ẩm thực Bosnia là một phần của ẩm thực Balkan và có sự tương tự nhiều  với ẩm thực Thổ Nhĩ Kỳ và Địa Trung Hải. Ngoài ra, có thể thấy ảnh hưởng của ẩm thực Áo và Hungary từ thời Đế quốc Ottoman quân chủ. Ẩm thực Bosna và Hercegovina có liên kết chặt chẽ với  nền ẩm thực các lãnh thổ của quốc gia Nam Tư (Yugoslavia) trước khi Nam Tư tan rã vào năm 1992, đặc biệt là với Serbia và Croatia.

Mặc dù ảnh hưởng nhiều của ẩm thực Tây Âu, nhưng ẩm thực Bosnia rất giống với ẩm thực Đông Âu, đặc biệt là ẩm thực Macedonian. Thịt là trọng tâm của các món ăn Bosnia. Các món thịt có nhiều phiên bản khác nhau, gồm nấu chín, hầm, chiên, nướng hoặc sấy khô. Đặc sản đặc biệt là dê nướng trên lửa. hoặc thịt cừu. Ražnjići và Ćevapčići là một trong những món thịt nổi tiếng nhất trong ẩm thực Bosnia. Các món thịt thường được phục vụ theo khẩu phần lớn và được tẩm gia vị đậm đà.

Món ăn của ẩm thực Bosnia và Herzegovina rất đa dạng và phong phú; từ các món thịt, các món rau đến các móng tráng miệng, khai vị và các loại nước sốt, rau củ, dưa muối. Nhiều món ăn của Bosnia được nấu nướng bởi công thức không thay đổi trên hàng trăm năm.

Các món ăn Bosnia sử dụng nhiều loại gia vị, nhưng thường với số lượng vừa phải nên hương vị đậm đà nhưng không cay. Hầu hết các món ăn nhẹ dễ tiêu, vì chúng được luộc chín; nước sốt là chất tự nhiên từ nguyên liệu, bao gồm ít nước ép tự nhiên của các loại rau trong món ăn. Các thành nguyên liệu chính điển hình bao gồm cà chua, khoai tây, hành tây, tỏi, ớt chuông, dưa chuột, cà rốt, bắp cải, nấm, rau bina, cải thìa, đậu khô và tươi, mận, sữa, ớt bột và kem gọi là pavlaka và kajmak. Các món thịt điển hình chủ yếu bao gồm thịt bò, thịt cừu và gia cầm do luật ăn kiêng của Hồi giáo, mặc dù người Croatia và người Serbia ở Bosnia có thể ăn thịt lợn. Một số đặc sản địa phương là Ćevapčići , Burek, Grah, Sarma, Pilav(Pilaw), Gulaš (goulash), ajvar và nhiều loại đồ ngọt phương Đông. Các loại rượu vang địa phương tốt nhất đến từ Herzegovina, nơi có khí hậu thích hợp để trồng nho. Mận hoặc táo Rakija, được sản xuất ở Bosnia.

Bosanski  Lonac

Là món thịt hầm của Bosnia. Tthịt và rau thành nhiều lớp vào nồi; một lớp thịt,  rồi một lớp rau, các lớp xen kẽ nhau cho đến khi đầy nồi. Sau thêm nước hoặc rượu trắng vào. Các thành phần được cho vào nồi thành từng miếng lớn. Bosanski Lonac ban đầu được nấu trong một chiếc nồi sứ, sau đó được đặt trên bếp lửa, nhưng vì cả hai loại này hiếm khi được tìm thấy trong một gia đình ngày nay, nên một nồi sâu bình thường và một lò nướng bình thường được sử dụng.

Các nguyên liệu  thịt và rau củ được cắt khá lớn, nên món này cần  khoảng bốn giờ để nấu hoàn thành.

Pljeskavica

Là một món ăn dân tộc của Serbia còn được gọi là hamburger Serbia, là một miếng thịt nướng bánh tròn, dẹt được làm từ thịt bò băm, thịt lợn và thịt bê, hoặc sự kết hợp của ba loại thịt với gia vị ướp. Các gia vị thường là như ớt bột, muối và tiêu, và có thể thêm vào hành và tỏi bằm nhuyễn.

Ćevapi (Ćevapčići)

Món ăn quốc gia của Bosnia này là món thịt nướng hình dạng xúc xích nhỏ có kích thước bằng ngón tay. Nguyên liệu  thường được làm bằng thịt bò xay - hoặc hỗn hợp thịt bò băm với các loại thịt khác như thịt lợn, thịt bê hoặc thịt cừu được tẩm ướp với nhiều loại gia vị khác nhau; thường là tỏi, muối, hạt tiêu đen, và đôi khi ớt bột hoặc ớt đỏ.

Grah, súp đậu Bosnia

Grah là một món súp đậu truyền thống của người Bosnia sử dụng đậu Peruano làm nguyên liệu chính, được phục vụ cùng với ớt chuông, hành tây và cà rốt. Thường thịt bò nấu chậm được thêm vào súp, tạo ra một bữa ăn ấm áp lành mạnh cho cả những ngày lạnh nhất.

Begova Corba

Begova Corba, hay Bey's Soup trong tiếng Anh, là món ăn phổ biến ở Bosnia.

Nguyên liệu gồm thịt gà nấu chín chậm và các loại rau như cà rốt, khoai tây và cần tây, luộc thành một món hầm dày, kem làm món khai vị ấm áp. Bey's thường được phục vụ với kem chua hoặc nước sốt trong bát đất sét và người dân địa phương nấu và ăn món súp này đặc biệt là trong các ngày lễ và lễ hội.

Burek

Là loại bánh với nhiều lớp bột dòn mỏng  filo hay phyllo có nguồn gốc từ Thổ Nhĩ Kỳ . Bureks có nhân bánh thường là thịt bò, thịt cừu xay hoặc hổn hợp cả hai, ướp gia vị, phô mai hoặc rau bina hay khoai tây. Burek thường được ăn kèm sữa lên men Kefir.

Ẩm thực Croatia, các món ăn của Croatia

Ẩm thực Croatia không đồng nhất và được biết đến như một nền ẩm thực của các vùng miền, vì mỗi vùng của Croatia đều có truyền thống ẩm thực riêng biệt. Nguồn gốc của nó có từ thời cổ đại. Sự khác biệt trong việc lựa chọn nguyên liệu thực phẩm và hình thức nấu ăn là đáng chú ý nhất giữa những người ở đất liền và những người ở vùng ven biển. Ẩm thực ở miền đất liền trước tiên chịu ảnh hưởng đặc trưng văn hóa ẩm thực dân tộc Slavic và sau đó trong thời kỳ sau tiếp cận văn hóa  ẩm thực Hungary và Thổ Nhĩ Kỳ, bắt đầu sử dụng mỡ bò, trừu  để nấu ăn, và các loại gia vị như tiêu đen, bột ớt chuông (cả những loại cay hơn) và tỏi.

Ẩm thực vùng bờ biễn chịu ảnh hưởng của ẩm thực Hy Lạp và La Mã thời xưa, cũng như ẩm thực Địa Trung Hải hiện đại, đặc biệt là của là Pháp và Ý (đặc biệt là của vùng Venice). Các món ăn vùng ven biển sử dụng dầu ô liu, các loại thảo mộc và gia vị như hương thảo, cây xô thơm, lá nguyệt quế, oregano, kinh giới, quế, đinh hương, nhục đậu khấu, chanh và vỏ cam. Truyền thống nấu ăn của thường dân; chủ yếu nông dân dựa trên một số nguyên liệu cơ bản (ngũ cốc, các sản phẩm từ sữa, thịt, cá, rau) và các phương pháp nấu ăn (hầm, nướng than, nướng lò, rang), trong khi ẩm thực của tầng lớp trung lưu ở thành thị áp dụng các công thức, phương pháp nấu nướng phức tạp hơn và sử dụng các loại rau thơm và gia vị chọn lọc. Việc chế biến thịt (như thịt xông khói, thịt muối, giăm bông, xúc xích) là một phần của truyền thống Croatia trong tất cả các khu vực. Thức ăn và công thức nấu từ nước Nam Tư cũ cũng phổ biến ở Croatia

Ẩm thực Croatia có thể được chia thành một số nền ẩm thực riêng biệt (Istria, Dalmatia, Dubrovnik, Lika, Gorski Kotar, Zagorje, Međimurje, Podravina, Slavonija) mỗi món có truyền thống nấu ăn cụ thể, đặc trưng cho khu vực và không nhất thiết phải nổi tiếng ở các vùng khác của Croatia. Tuy nhiên, hầu hết các món ăn có thể được tìm thấy trên khắp đất nước, với các biến thể địa phương.

Ẩm thực vùng Slavonia,  ẩm thực có gia vị đậm đà với nhiều ảnh hưởng của Hungary, nhiều món thịt và thịt thú săn, món hầm và đặc sản Goulash

Ẩm thực vùng Hrvatsko Zagorje và Međimurje gồm nhiều món tráng miệng và bánh bột luộc nổi tiếng

Ẩm thực vùng miền Trung Croatia hoặc đất nước vùng đồi Croatia, pho mát tự làm, đặc sản nướng mạnh hơn, ảnh hưởng của Ottoman

Ẩm thực vùng Istria, ẩm thực với nhiều loại thảo mộc khác nhau, đặc sản nấm truffle và ảnh hưởng của Ý

Ẩm thực vùng Dalmatia, mang nhiều đặc trưng ẩm thực Địa Trung Hải với nhiều ảnh hưởng của Ý.

Skradin risotto

Đây là một món ăn truyền thống của Croatia, thường được nấu trong các dịp lễ. Việc nấu món ăn mất từ 7-12 giờ. Các nguyên liệu cần nhiều loại cho món ăn này, gồm hành tím, thịt bê, thịt gà phi lê, gạo, cà chua nghiền, dầu o liru, ngày tây, rượu vang ngọt Prosecco, pho mai cừu Paški Sir và môt ít bơ.

Risotto đen

Món cơm hải sản nổi tiếng của ẩm thực Croatia. Món cơm Risotto đen được làm từ nguyên liệu mực (bạch tuộc),khoai tây,gạo, dầu olive, tỏi, rượu vang đỏ. Sau khi tất cả nguyên liệu đã được xào chín, người ta sẽ trộn cùng cơm chín với mực của bạch tuộc.

Brodet

Là món hải sản hầm rau củ của Croatia. Nguyên liệu cho món phải là ba loại hải sản gồni cá, một vài loại ốc như nghêu, sò hay các loài giáp xác như tôm cua.

Cách nấu là đầu tiên hành và dầu olive sẽ được cho vào một chiếc nồi tròn, rồi thêm các loại hải sản, giấm, sau đó là tỏi, lá thơm, tiêu, khoai tây, muối, nho khô và đổ nước sâm sấp mặt cá hầm chín với lửa riu.

Pašticada

Là món thịt bò hầm với nước sốt của vùng Dalmatia của Croatia. Món ăn đòi hỏi quá trình chế biến khá lâu và tỉ mỉ.

Thịt bò ngon được trộn với nhiều loại gia vị và rau củ như tỏi, đinh hương, cà rốt, thịt xông khói, sau đó ướp với muối và giấm qua đêm cho ngấm mềm sau đó nấu chung với thịt xông khói nướng, hành tây, rễ rau mùi tây, hạt nhục đậu khấu, mận khô, bột cà chua và prošek đến năm giờ, tùy thuộc vào thịt. Đây cũng là món ăn thường được chọn trong các dịp quan trọng chẳng hạn như lễ cưới, được ăn kèm với Gnocchi, một loại bánh bột mềm truyền thống hoặc mì pasta tự chế.

Punjena paprika

Là món ớt chuông dồn thịt  băm với cơm được nấu chín chậm với sốt cà chua. Nó được phục vụ với khoai tây nghiền và một phần thường có hai quả ớt nhồi lớn.

Peka

Đây là một món ăn bạn không thể bỏ lỡ khi đi du lịch Croatia. Còn có tên gọi khác là ispod peke (dưới quả chuông) do nguyên liệu chính là các loại thịt như cừu, bê hay bạch tuộc được đặt trong một chiếc nồi với nắp nhìn giống 1 quả chuông, và được nấu chậm với than.

Giống như một món nướng đút lò, peka được chế biến với rất nhiều nguyên liệu khác nhau từ các loại thịt như thịt lợn, thịt bò, thịt cừu, thịt gà hoặc hải sản như cá, bạch tuộc cùng với rau củ quả theo mùa như khoai tây, bí ngòi, nấm mà trong đó thường không bao giờ thiếu khoai tây

Zagorski Štrukli

Đây là một trong những món ăn truyền thống nhất tại Croatia, thậm chí nó còn được liệt vào danh sách những di sản văn hóa phi vật thể của quốc gia này. Zagorski Štrukli rất phổ biến ở vùng phía bắc của đất nước, với nguyên liệu chính là bột bánh và nhiều loại nhân khác nhau, được chế biến bằng cách nướng chín hoặc nấu.

Čobanac

Có xuất xứ từ miền đông của Croatia, món thịt hầm Čobanac được nấu rất lâu trên ngọn lửa lớn và thường sử dụng nhiều hơn 1 loại thịt.

Ẩm thực Kosovo, các món ăn của Kosovo.

Ẩm thực của Kosovo mang  nhiều đặc trưng ẩm thực  khí hậu lục địa của khu vực vốn một phần của ẩm thực của Serbia trước khi độc lập, tách rời Serbia.

Ẩm thực  Kosovo chịu ảnh hưởng bởi các nhóm dân tộc trong nước như người Albania, Serbia, Thổ Nhĩ Kỳ, Di-gan (Roma), Bosnia, Goran. Do mối liên hệ lịch sử và sắc tộc với Albania, ẩm thực Kosovo bị ảnh hưởng đáng kể bởi ẩm thực Albania.

Các món ăn của ẩm thực  Kosovo  dựa trên ba thành phần nguyên liệu thực phẩm chính là thịt đỏ, thịt gia cầm và gia vị. Các đặc sản của Kosovar bao gồm Gjyveç, Burek, Flia (Flija) và Kebap, đặt biệt món ớt dồn thịt băm, gảo và rau cải với nước sốt cà chua là món ăn rất phổ biến nổi tiếng của Kosovo .

Bánh mì, sữa, thịt, trái cây và rau quả là những thực phẩm quan trọng trong ẩm thực Kosovan. Với sự đa dạng của các công thức nấu ăn, ẩm thực hàng ngày của Kosovan điều chỉnh phù hợp với mùa hè nóng bức thường xuyên và mùa đông dài thường xuyên của đất nước. Do khí hậu lục địa của Kosovo, rau tươi được tiêu thụ vào mùa hè trong khi dưa rau muối chua và cùng món Pasterma (thịt bò khô) thường được chuẩn bị trong suốt mùa thu và mùa đông.

Bữa sáng ở Kosovo thường nhẹ nhàng, chủ yếu gồm bánh mì sừng trâu  với cà phê, bánh mì sandwich, trứng luộc, trứng tráng, bánh mì nướng với xúc xích Ý, phô mai, rau diếp và trà. Ngũ cốc với sữa, bánh quế, bánh quy và bánh kếp crep làm với mật ong hoặc mứt cam cũng thường xuyên được tiêu thụ đặc biệt.

Các sản phẩm từ sữa đóng một vai trò rất lớn trong chế độ ăn kiêng Kosovo, như phô mai Sharr, phô mai tươi, sữa bò, sữa dê và phô mai dê là những sản phẩm từ sữa được sử dụng rộng rãi. Ngoài ra, bánh mì ngũ cốc rất nổi tiếng, nó được gọi là Leqenik và thường chứa đầy rau bina hoặc pho mát.

Kosovo là vùng sản xuất rượu nhỏ quan trọng của Balkan. Truyền thống lâu đời của nghề trồng nho đã bị gián đoạn bởi chiến tranh. Rượu vang Amselfelder nổi tiếng với chất lượng, từng đặc biệt phổ biến ở Đức.

Các món ăn của Kosovo thường là phiên bản Kosovo của các món ăn của các nước khác vùng Balkan, đặc biết từ Albania như  Burek,  Sarmale v.v.

Flija

Là loại bánh phổ biến có nguồi gốc từ Albania nhưng cũng là món ăn quan trọng trong những dịp lễ và sự kiện quan trọng ở Kosovo

Flija được làm bằng cách đổ các lớp bột và nhân kem mỏng vào chảo và làm chín từng lớp riêng biệt với các vỉ kim loại cách được gọi là saçs, được đặt đứng trên chảo. Bánh sử dụng những nguyên liệu rất đơn giản bao gồm bột mì, nước, bơ, sữa chua và muối. Các thành phần chính (bột mì, nước và muối) được trộn với nhau cho đến khi bạn có được kết cấu tương tự như bột bánh crep.

Bánh Flija bao gồm hai hỗn hợp khác nhau; một cho hỗn hợp bột - thường bao gồm bột mì, nước, muối và trứng, và hỗn hợp thứ hai là kem, được sử dụng làm nhân, được chế biến bằng cách trộn với dầu, bơ và sữa chua hoặc phô mai Kaymak.

Tavë Prizreni

Tavë Prizreni là một món thịt hầm truyền thống của vùng từ phía nam thành phố Prizren. Nó được làm từ thịt cừu, cà tím, ớt xanh, hành tây, cà chua và được phục vụ nóng.

Tavë Kosi  

Là món thịt cừu nướng ngon tuyệt với cơm và sữa chua. Đầu tiên, thịt cừu được nấu với tỏi và gạo, sau đó được tẩm gia vị với lá oregano. Món ăn được nướng đút là trong hỗn hợp trứng sữa chua đánh tan. Khi chín sẽ chuyển sang màu vàng nâu và mềm trong lò nướng.

Ẩm thực Bắc Macedonia, các món ăn truyền thống của Cộng hoà Macedonia

Macedonia được định hình bởi các dân tộc khác nhau sinh sống ở đây, mỗi dân tộc đều có nền văn hóa riêng và hình thành nên các khu vực văn hóa độc lập. Văn hóa dân tộc Macedonian là  thành phần quan trọng nhất do chiếm trên 60% dân số tại Macedonia. Nhưng cũng có người Albania, người Thổ Nhĩ Kỳ, người  Di-gan (hoặc Rom, Rrom, hay Rroma) vàt người Serbia  cùng người Bosnia và  nền văn hóa Wallachia của một sắc dân của nước Romania. Tất cả đều tạo nên sự đa dạng văn hóa của đất nước, điều này cũng được phản ánh trong nền ẩm thực của Macedonia.

Ẩm thực Macedonian (tiếng Macedonian: Македонска куната, Makedonska kujna) là một phần của ẩm thực Balkan và được đặc trưng bởi các loại ngũ cốc được trồng ở vùng đồng bằng sông và cao, đặc biệt là lúa mì và ngô. Ở phía đông nam của đất nước cũng có lúa. Là đặc trưng của ẩm thực Balkan, ẩm thực Macedonian đã tiếp xúc với ảnh hưởng của phương Đông và Địa Trung Hải trong nhiều thế kỷ, tất cả đều để lại dấu ấn. Nó phản ánh ảnh hưởng của Địa Trung Hải và Trung Đông và chia sẻ các đặc điểm của các món ăn khác của vùng Balkan.

Balkan. Khí hậu tương đối ấm áp của đất nước tạo điều kiện phát triển tuyệt vời cho nhiều loại rau, thảo mộc và trái cây. Ẩm thực Macedonian cũng được phân biệt bởi sự đa dạng và chất lượng của các sản phẩm sữa, rượu vang và rượu mạnh địa phương, chẳng hạn như  Rakia.

Gia súc chăn nuôi làm nguyên liệu thực phẩm  quan trọng nhất là trâu bò, cừu và lợn. Ngoài ra còn có dê và gia cầmi. Các loại trái cây quan trọng nhất bao gồm táo, mơ, lê, sung, anh đào, dưa hấu, dưa hấu và mận. Ngoài ra, hạt dẻ và hạt phỉ cũng phát triển. Cây hạnh nhân, quả óc chó và đặc biệt là nho ở Macedonia. Vùng biển phía tây nam Macedonia vô cùng phong phú về cá. Các đặc sản cá địa phương bao gồm cá hồi Ohrid và cá hồi nhỏ.

Đồ ăn & thức uống ở Macedonia bao gồm các món khai vị như  Ayan, Pinjour và Torzhi. Các món đặc sản thịt nổi tiếng bao gồm bít tết băm, goulash, Köfke và Sucuk. Các món hầm làm từ khoai tây, dưa cải bắp hoặc đậu xanh cũng như ớt nhồi, bắp cải cuộn, cải thìa và bulgur cũng rất đặc trưng. Ngoài ra còn có các món nướng như Börek, Pita và Yufka và các món tráng miệng như Baklava, Halva và Kadaifi. Một loại bia nổi tiếng của Skopje là Skopsko pivo. Các loại rượu khác nhau cũng rất phổ biến.

Tavče gravče và mastika được coi là món ăn và thức uống quốc gia của Bắc Macedonia.

Musaka

Món Musaka là món khoai tây và thịt băm nướng đút lò của Macedonia giống như món  Moussaka  của Hy Lạp được làm từ cà tím thái lát, thịt cừu bằm nhuyễn, hành, bơ, trứng, sữa, phô mai và gia vị đem bỏ lò ăn cùng nước sốt cay.

Món Musaka Macedonia thì được làm từ khoai tây sắt lát, thịt bò băm, ớt, cà chua phơi khô, gia vị và trứng.

Tavče gravče

Là một món ăn truyền thống của người Macedonian. Nó được hầm bằng đậu trắng và các loại rau củ, nhiều gia vị khác như ớt chuông, hành tây, tiêu, cà chua trong một nồi đất nung không tráng men truyền thống gọi là Tava

Món ăn này được phục vụ ở nhiều nhà hàng ở Bắc Macedonia. Nó cũng thường được ăn bởi cộng đồng người Macedonian .

Turli Tava

Là món  hầm rau cải và thịt có nguồn gốc tên gọi trong từ Türlüg trong tiếng Thổ Nhĩ Kỳ cổ có nghĩa là "sự đa dạng" và Tava, một nồi đất nung . Đây là món ăn chính phổ biến ở Bắc Macedonia, Serbia, Bulgaria và phần còn lại của miền nam Balkan. Turli tava được làm từ khoai tây, gạo, đậu bắp, cà tím, cà chua, ớt, thịt lợn, thịt bò hoặc thịt cừu. Tất cả các thành phần này được trộn và nướng trong lò trong một đĩa gốm truyền thống đất nung Tava.

Polneti piperki

Là một món ăn đậm đà hương vị ở Bắc Macedonia có hương vị, bao gồm ớt dồn thịt xay, cơm và gia vị chọn lọc. Đôi khi rau cải cắt nhỏ được thêm vào nhồi. Có nhiều phiên bản biến tấu cho công thức món này với nguyên liệu khác dồn trong ớt như phô mai, khoai tây,Món ăn thường được nướng trong lò cho đến khi ớt hơi cháy.

Podvarok

Là một món thịt hầm cải đút lò truyền thống của người Macedonia, thường được làm với  với sườn heo tươi hoặc thịt heo  hun khói  và với dưa bắp cải muối chua, nhưng có thể dùng bắp cải thông thường. Món này cũng có thể chế biến món ăn này với thịt gà thay cho sườn heo.

Širden

Là món bao tử cừu hoặc ruột cừu dồn thịt. Món này được chế biến theo cách này bao tử hoặc bong bóng (ruột) cừu hoặc cừu được làm sạch và dồni nhân gồm 3 loại thịt băm nhỏ, hành tây và ớt bột và nêm với tiêu đen, pimento và muối. Một ít nước được thêm vào và khâu bằng chỉ. Trước hết bao tử đã dồng nhân được chiên sơt với mỡ heo, sau đó được nướng vàng trong lò nướng.

Gjuvech

Là món nướng gà nấu với rau cải và gạo của Macedonia. Món này gồm thịt gà nấu với tiêu, muối được sắt nhỏ nấu với rau củ cắt vuông nhỏ và cơm gạo. Gạo trước hết được nấu với hành tây. Rau củ nấu chín với nước dùng gà. Sau đó trộn rau củ vào cơm, đảo đều, thêm muối và tiêu. Sau cùng cho thịt gà lên trên cơm, đổ thêm nước dùng nếu cần. Nướng trong lò đã làm nóng trước (đến 175-200ºC) cho đến khi cơm chín và thịt có màu nâu. Đổ bơ đã đun nóng lên trên và rắc tiêu xay.

Món này được ăn sa lát củ dền, rau diếp hoặc sa lát dưa chuột với sữa chua hoặc kem chua.

Pastrmalija 

Pastrmalija là một loại bánh bột nướng hình bầu dục truyền thống. Nó thường được phủ bằng thịt muối, hình khối. Có một lễ hội quốc gia cho món ăn này ở Macedonia  minh chứng cho việc Pastrmalija ngon và rất được ưa chuộng trong nước.

Teleska Corba

Là móm thịt hầm là một món ăn truyền thống ở Macedonia với các nguyên liệu thị khác nhau như thịt bê, thị ba chỉ và thị gà. Thường được kết hợp với nước sốt tỏi (makalo) và rau củ như cà rốt, khoai tây cùng các gia vị nghệ tây,mùi tây và lá nguyệt quếi.

Ẩm thực Serbia, các món ăn của Serbia

Ẩm thực Serbia (Serbian Cрпска кухиња / Srpska kuhinja) là một phần của ẩm thực Balkan. Các món ăn chịu ảnh hưởng bởi ẩm thực Slavic Đông Âu và của các nước láng giềng, bởi ẩm thực Áo và ẩm thực của vùng Địa Trung Hải, đặc biệt là của ẩm thực vùng Cận Đông, đặc biệt là ẩm thực Thổ Nhĩ Kỳ.

Serbia nằm trên ngã tư giữa Đông và Tây, ẩm thực của nước này đã hội tụ các yếu tố từ các phong cách nấu ăn khác nhau trên khắp Trung Đông và châu Âu để phát triển thành nền ẩm thực của riêng mình với sự cân bằng phức tạp của các loại thịt, rau, bánh mì, pho mát, bánh ngọt tươi, và các món tráng miệng. Nó có nhiều điểm chung với các món ăn của các nước láng giềng Balkan; hương vị nhẹ nhàng, tươi mát và tự nhiên. Gia vị thường là muối, tiêu đen và ớt bột, trong khi các nguyên liệu được biết đến là tươi ngon và chất lượng cao. Thực phẩm theo mùa là một yếu tố quan trọng của ẩm thực Serbia, do đó nhiều món ăn có liên quan chặt chẽ với một thời điểm cụ thể trong năm.

Về mặt lịch sử, món ăn Serbia  ảnh hưởng  văn hóa  của ẩm thực thời kỳ  Đế quốc Đông La Mã (Byzantine),Hy Lạp và Địa Trung Hải và ở một mức độ thấp hơn, của Trung Âu.

Do vị trí địa lý của Serbia và sự giao lưu văn hóa địa phương khu vực và xuyên quốc gia, một số món ăn, phương pháp nấu nướng  và nguyên liệu ẩm thực nước khác  đã được du nhập vào Serbia,làm  ảnh hưởng và thay đổi ẩm thực nội địa. Người Serbia, do đó đã chế biến các phiên bản quốc gia hoặc các món ăn mang đặc trưng cho vùng Balkan từ  nền ẩm thức khác . Do từ truyền thống  ẩm thực lâu đời, ẩm thực Serbia  trở thành nền ẩm thực nhiều món ăn, nguyên liệu và đặc sản đa dạng. Các sản phẩm được quốc tế biết đến cũng được sử dụng, bắp chước, điều chỉnh trong ẩm thực Serbia . Như các món thịt đặc trưng cho vùng Ćevapčići, Pljeskavica và Ražnjići nguyên thủy của Bosnia và Hercegovina , các món ăn nổi tiếng khác là Pasulj, Sarma hoặc Đuveč đều có trong ẩm thực Serbia với đặc trưng riêng.

Món ăn đặc sản tiêu biểu của Serbia là Karađorđeva šnicla (thịt chiên Karađorđe), một món ăn thịt như Schnitzel của Áo. Thịt được cán dài, tẩm bột và nướng, phủ đầy pho mát hoặc kem hoặc kajmak, tùy ý cũng với giăm bông, được đặt tên theo Karađorđe, hoặc Mućkalica, một món hầm với thịt nướng và rau.

Các món ăn quốc gia bao gồm Gibanica (bánh trứng và pho mát làm bằng bột filo), Pljeskavica (thịt bò / thịt lợn xay . Thức uống quốc gia là rakia (nhiều loại rượu mạnh trái cây truyền thống).

Người Serbia trung bình ăn ba bữa một ngày: bữa sáng, bữa trưa và bữa tối — trong đó bữa trưa là bữa lớn nhất. Tuy nhiên, theo truyền thống thời trung cổ, người Serbia chỉ ăn bữa trưa và bữa tối. Thói quen ăni bữa sáng được người Serbia bắt chước  vào nửa sau của thế kỷ 19.

Một số loại thực phẩm thường được phục vụ  tại nhà hàng  nước ngoài, đặc biệt ở Tây Âu thường chỉ được nấu tại nhà ở Serbia. Chúng bao gồm Rakija, Slatko, mứt, thạch và các loại thực phẩm muối chua, mặn khác, như  là dưa cải bắp, Ajvar hoặc xúc xích. Điều này do phong tục tập quán và lý do kinh tế. Chuẩn bị thức ăn món ăn gia đình và tiết kiệm là một phần truyền thống mạnh mẽ của gia đình Serbia.

Prebranac

Là món đậu nướng, một trong những món ăn nổi tiếng và phổ biến nhất ở Serbia. Đây là món chay rất được ưa chuộng. Nguyên liệu gồm đậu, ớt chuông, củ hành, dấu o liu, tiêu và lá nguyệt quế. Đậu được ngâm và nấu và hầm với các nguyên liệu như củ hành, ớt chuông  rồi trộn với dầu và hương liệu, sau đó nướng trên mâm sứ hay đất nung trong lò.

Karađorđeva šnicla

Là món ăn thịt chiên như Schnitzel của Áo tuy nhiên hình dạng dài. Món ăn được chế biến với thịt lợn hoặc thịt bò phủ đầy Kajmak, và chiên giòn với một lớp bột mì, nhúng vào trứng đánh tan và cuộn trong vụn bánh mì. Thông thường nó được phục vụ với nước sốt Tartar và khoai tây chiên.

Čvarci

Là món da heo và mỡ heo chiên thành tóp mỡ và giòn. Da heo hay mỡ heo tươi được thêm  hành tây hoặc tỏi  vào làm gia vị và muối luôn được sử dụng để ướp  tăng hương  vị trước khi chiên.

Sarmal

Món bắp cải cuộn cũng là món ăn phổ biến ở Serbia như móm Sarmale của Romenia. Món này được thực hiện bởi các nguyên liệu thịt bò, thịt heo xay và gạo trộn đều trong hỗn hợp gồm hành tây thái nhỏ được chiên vàng với bột ớt paprika và sốt cà chua, rồi cuộn trong lá bắp cải, sau đó luộc chín với lửa lớn và lửa riu 1 giờ.

Ćevapi (Ćevapčići)

Món ăn quốc gia của Bosnia này cũng là ăn của Serbia. Đây món thịt nướng hình dạng xúc xích nhỏ có kích thước bằng ngón tay. Nguyên liệu  thường được làm bằng thịt bò xay - hoặc hỗn hợp thịt bò băm với các loại thịt khác như thịt lợn, thịt bê hoặc thịt cừu được tẩm ướp với nhiều loại gia vị khác nhau; thường là tỏi, muối, hạt tiêu đen, và đôi khi ớt bột hoặc ớt đỏ.

Punjena paprika

Là món ớt chuông dồn thịt  băm với cơm được nấu chín chậm với sốt cà chua của Croatia cũng phổ biến tại Serbia. Nó được phục vụ với khoai tây nghiền và một phần thường có hai quả ớt nhồi lớn.

Ẩm thực Montenegro, các món ăn của Montenegro

Các món ăn Montenegro cho thấy ảnh hưởng từ các bang khác của nước Nam Tư cũ. Nó rất giống với ẩm thực Bosnia, Croatia (ở đây đặc biệt là Dalmatian) và Serbia. Món cá rất phổ biến ở ven biển, nhưng cũng có nhiều trên sông. Cá được cung cấp với nhiều biến thể khác nhau, một đặc sản ở Podgorica là cá chép với mận. Trên bờ biển Adriatic của Montenegro, bạn có thể tìm thấy nhiều loại cá như cá hồi và cá pikeperch và cá nội địa như Latnica, sống ở Hồ Skadar. Thịt cũng là một nguyên liệu chính trong ẩm thực nơi đây. Thịt cừu nướng đặc biệt phổ biến,  Món thịt chiên Njegusi  cũng là một đặc sản phổ biến. Món này giống như thịt chiên Karađorđe của Serbia, thịt được phủ một lớp kajmak và phủ lên trên là pho mát cừu và giăm bông; Sau đó, nó được cuộn lại với nhân, phủ một lớp dầu ô liu, kéo qua trứng đã đánh và chiên, vốn có nguồn gốc từ món tương tự từ Pháp, Thụy Sĩ và Áo.

Các món truyền thống của Montenegro và vùng bờ biển Adriatic của Mongtenegro phần nhiều có hương vị Ý. đặc biệt thể hiện trong nhiều phương diện, như ở cách làm bánh mì, cách thịt được ướp muối hoặc làm khô, cách làm phô mai, rượu vang, và rượu nồng độ cồng cao, cách làm xúp và món hầm (čorba) hay món Polenta Montenegro , ớt nhồi, thịt viên, Priganice (đồ chiên), raštan v.v.

Ảnh hưởng lớn thứ hai trong ẩm thực Montenegro đến từ một khu vực rộng lớn ở phía Tây Á hình thành bởi các vùng đất giáp với bờ biển phía đông Địa Trung Hải  Levant và của Thổ Nhĩ Kỳ như các món Sarma, Musaka, Pilav, Pita, Gibanica, Burek, ćevapi, Kebab, đuveč, và các loại đồ ngọt Thổ Nhĩ Kỳ như Baklava and Tulumba v.v.

Ẩm thực Hungary cũng mang ảnh hưởng từ Goulash và Sataraš cho món ăn của Montenegro.

Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, ẩm thực Croatia hầu như có ảnh hưởng trong ẩm thực Montenegro về đồ tráng miệng. Bánh kếp, bánh doughnut, mứt, rất nhiều loại bánh quy và bánh ngọt, tất cả đều làm tăng tỷ lệ vòng hai của người Montenegro. Bánh mì kiểu Vienna là loại bánh mì phổ biến nhất trong các cửa hàng.

Ẩm thực Montenegro cũng thay đổi theo vùng; ẩm thực ở vùng ven biển khác với ở vùng cao phía bắc. VÙng ven biển theo truyền thống là đại diện cho ẩm thực Địa Trung Hải, với hải sản là món ăn phổ biến.

Thịt xông khói Njegusk

Món ăn yêu thích của người Montenegro từ Njeguski, một ngôi làng miền núi cách Kotor khoảng nửa giờ qua con đường ngoằn nghoè.

Thịt xông khói được ăn thái lát, thường được ăn kèm với một số loại thảo mộc và ngon nhất đi kèm với một lựa chọn các loại phô mai và một số ô liu. Bởi vì bánh mì luôn được phục vụ trên bàn của mọi nhà hàng ở Montenegro, bạn có thể kết hợp  với bánh mì, dầu ô liu tuyệt vời.

Buzara

Hải sản hầm rượu vang. Động vật có vỏ như nghêu, ố, và tôm được nấu chín trong nước sốt màu đỏ hoặc trắng. Nước sốt đỏ được làm bằng rượu vang đỏ,vụn bánh mì, hành tây, cà chua, rau thơm và gia vị. Nước sốt trắng được coi là một hình thức nghệ thuật và được làm bằng rượu vang trắng. Người Montenegro không yêu gì hơn là nấu một nồi lớn buzara vào một đêm mùa hè và mời tất cả bạn bè của họ qua thưởng thức.

Kacamak

Kacamak là một món ăn truyền thống, thịnh soạn từ vùng núi của Montenegro. Nó được làm bằng cách nấu bột ngô với khoai tây và thêm kajmak, một loại pho mát kem, và ăn với sữa lên men và sữa bơ.

Čorbast Pasulj

Là món đậu hầm với sườn hun khói và các loại salami và xúc xích. Nó khá giống với món cassoulet của Pháp hay món đậu hầm xúc xích Fabada, và đậu đen hầm thịt xông khói Feijoada từ ẩm thực Iberia Tây Ban Nha.

Balšića tava

 Balšića tava là một món ăn truyền thống của Montenegro bao gồm thịt bê luộc được quay trên lử và kết hợp với nước sốt thơm ngon bao gồm trứng, sữa và kem chua. Thịt bê thường được luộc trước với hành tây và cà rốt. Hỗn hợp sau đó được nướng  cho đến khi nó chuyển sang màu hơi vàng.

Ẩm thực Slovenia, các món ăn của Slovenia

Ẩm thực Slovenia (tiếng Slovenia: slovenska kuhinja) bị ảnh hưởng bởi nền ẩm thực các quốc gia lân cận xung quanh, nhất là từ Áo, Ý, Hungary và Croatia. Đặc điểm của ẩm thực Slovenia  là các món ăn từ nguyên liệu tươi, gần gủi cuộc sống của người nông dân  nhưng ở đây cũng có sự khác biệt giữa các vùng của Slovenia từ vùng biển đến vùng núi.

Các thành phần thường nguyên liệu phổ biến được sử dụng bao gồm từ cá và hải sản ở miền nam đến thịt (kể cả thịt thú rừng), kiều mạch, quả hạch, bồ công anh, quả mọng, khoai tây và măng tây hoang dã. Nhưng Slovenia cũng là một quốc gia rượu và bia. Dầu hạt bí ngô cũng được sản xuất.

Nhìn chung ẩm thực Slovenia không đồng nhất mà đa dạng. Các món địa phương rất nhiều loại rất đa dạng phong phú do ảnh hưởng từ sự đa dạng của phong cảnh, khí hậu, lịch sử của Slovenia và các quốc gia lân cận. Năm 2016, những chuyên gia dân tộc học hàng đầu Slovenia đã chia quốc gia này thành 23 vùng ẩm thực. Căn cứ vào phân chia này ẩm thực truyền thống  Slovenia có thể chia thành ẩm thực thành thị, nông trại, vùng quê, lâu đài, mục sư và tu viện.

Súp là một dạng thức ăn rất phổ biến trong ẩm thực Slovenia, có hơn 100 món súp. Ngoài ra còn có nhiều loại cháo, món hầm và bữa ăn một dạng súp canh . Các món súp phổ biến nhất không có thịt là nạc và trơn. Một món ăn điển hình là aleluja, một món súp làm từ vỏ củ cải và là một món ăn nổi tiếng trong thời gian ăn chay. Món súp thịt phổ biến nhất là súp thịt bò với mì, thường được phục vụ vào Chủ nhật như một phần của bữa trưa Chủ nhật (súp thịt bò, khoai tây chiên, bít tết chiên và rau diếp). Vào những ngày lễ tết thường có món phở bò hoặc súp nấm kem. Thịt lợn phổ biến và thông dụng ở khắp mọi nơi ở Slovenia. Gia cầm cũng thường được ưa chuộng. Có rất nhiều loại thịt ở các vùng khác nhau của Slovenia. Ở White Carniola và thịt cừu và dê Littoral của Slovenia được ăn. Vào Ngày Thánh Martin, người ta ăn thịt ngỗng quay, vịt, gà tây, hoặc gà kết hợp với bắp cải đỏ và cà gai leo. Ở Carniola xưa, vùng thấp của Slovenia  và vùng nội địa của Slovenia, họ thường ăn chim cút quay và chim cút. Cho đến bệnh dịch tôm càng vào những năm 1880, tôm càng là một nguồn thu nhập và thường có trong các thực đơn ở Slovenia.

Lá bồ công anh phổ biến như một thành phần salad ở Slovenia và đã được thu hái trên các cánh đồng trong nhiều thế kỷ. Ngay cả ngày nay bồ công anh và salad khoai tây cũng được đánh giá cao. Vì nó chỉ có thể được hái trong một thời gian ngắn vào đầu mùa xuân, nên nhiều thứ được tạo ra từ nó. Các gia đình đi dã ngoại để hái bồ công anh, và hái đủ cho cả tuần. Vào thời Trung cổ, người ta ăn quả sồi và các loại quả rừng khác, đặc biệt là trong thời kỳ đói kém. Hạt dẻ được coi trọng, và là cơ sở cho nhiều món ăn nổi bật. Quả óc chó và quả phỉ được sử dụng trong bánh ngọt và món tráng miệng.

Dâu rừng, quả nhãn, quả mâm xôi đen, quả việt quất đen là nguồn cung cấp vitamin dồi dào. Nấm luôn được ưa chuộng và người Slovenia thích hái và ăn chúng. Có rất nhiều giống. Mật ong đã được sử dụng ở một mức độ đáng kể. Medenjaki, có nhiều hình dạng khác nhau là bánh mật ong, thường là hình trái tim và thường được dùng làm quà tặng.

Ajdovi žganci

Cháo kiều mạch chính là món ăn mà người Slovenia. Món ăn này được chế biến từ thành phần chính là bột kiều mạch. Người ta sẽ thêm cả dưa cải bắp, nước sốt thịt, xúc xích hay bánh pudding đen khi dùng cháo.

Món súp Goulash

Đây là một món ăn khá đặc trưng trong ẩm thực Slovenia, nguyên liệu của món ăn này gồm thịt bò, khoai tây, gia vị, ớt chuông, hành tây. Khi dùng súp người ta sẽ ăn kèm với khoai tây luộc, bánh mì hoặc cháo đặc Polenta.

Bánh Gibanica

Đây cũng là một loại bánhngọt  truyền thống của Slovenia. Bánh được làm từ bột, táo và quả ốc chó, phô mai, hạt anh túc. Sau khi bánh nướng chín sẽ có một mùi thơm quyến rũ sẽ lan tỏa, khiến du khách không thể cưỡng lại được.

Cá nướng  Slovenia

Món cá nướng Slovenia được nướng trên bếp cho tới khi da cá chín vàng, giòn tan nhưng  thịt cá bên trong vẫn giữ được màu trắng chắc nịch.

Người Slovenia thường ăn cá nướng với khoai tây và rau chân vịt (Spinach) luộc cùng dầu oliu và muối, cùng ly rượu vang trắng.

Xúc xích Kranjska

Xúc xích Kranjska là thực phẩm nổi tiếng của Slovenia được biết đến nhiều nhất. Năm 1896, món ăn được đặt tên là Kranjska lần đầu tiên và được bảo vệ vào năm 2015. Nó có nguồn gốc từ vùng Gorenjska rồi từ đó phát triển trên toàn bộ Slovenia. Người dân ở đây coi nó như một phần quan trọng của thực đơn tại các sự kiện nghi lễ và quan trọng. Món xúc xích này đặc biệt ở thành gồm 68% thịt lợn, 12% thịt bò và không quá 20% thịt xông khói.

Pršut

Thịt khô  phổ biến nhất ở Slovenia là pršut, là thịt muối khô của vùng Karst không hoàn toàn giống như thịt khô Prosciutto của Ý. Thịt muối được muối và treo ngoài trời để khô vào mùa thu; nó được cho là có được hương vị đặc biệt từ burja, gió đông bắc dữ dội ở vùng Karst.

Tünka

Tünka là thịt giăm bông Slovenia được làm từ những miếng thịt lợn hảo hạng, ướp với muối và nêm tiêu, tỏi, lá nguyệt quế và thìa là Ba Tư. Thịt sau đó được nấu chín, hun khói và cuối cùng được bảo quản trong mỡ lợn. Tên gọi này xuất phát từ phương pháp bảo quản truyền thống này: các miếng thịt được ngâm vào cái gọi là 'tünkas', một bồn gỗ chứa đầy mỡ lợn băm nhỏ, nơi chúng hình thành trong khoảng thời gian ít nhất 30 ngày.

Prežganka (súp "nâu" với trứng)

Là là món súp dân tộc của Slovenia làm từ bột mì, hạt thì là Ai Cập và trứng đánh tan. Màu nâu đến từ việc ủ bột mì trong dầu hoặc bơ. Thay vì bột mì, có thể sử dụng vụn bánh mì.